MỆNH CỦA NGƯỜI TRẦN
Từ khi sinh ra người Trần, cách đây khoảng 460 triệu năm, Trời đã đặt ra cho mỗi người Trần 2 Mệnh, một Mệnh Quái và một Mệnh Niên.
1- Mệnh Quái:
Mệnh Quái do Trời đặt ra từ khi mới sinh ra loài người Trần. Có 8 Mệnh Quái ghi trong Bảng 1.
Bảng 1- Mệnh Quái của người Trần
Mỗi người Trần đều có 1 trong 8 Mệnh Quái này. Mệnh Quái chính là cho một người Trời, tức là mệnh cho cái Linh hồn trong ta, nên gọi Mệnh Quái là Mệnh Trời. Mệnh Quái có 8, trong khi Trời có Quy tắc số 9, vậy phải còn một mệnh nữa, đó là Mệnh Thể, là một phần của Trời trong ta. Mệnh Thể chia ra 9 bậc theo 9 cấp Thể. Linh hồn của người Trần ở hàm cấp nào thì tương ứng với 1 trong 9 cấp Thể đó (xem Bài...). Vậy phải tính con người có 9 Mệnh Quái là Txe, Kan, Daoi, Ly, Txan, Ton, Kxam, Kyan, Kxon.
Chú thích: Mệnh Quái do Trời đặt ra từ khi có loài người Trần, nhưng mãi đến cách đây 91 ngàn năm Trời mới hình thành ký tự quẻ Dịch gồm các vạch đứt và vạch liền như trong cột 3 của Bảng 1. Và mãi đến cách đây 4600 năm Trời mới hướng dẫn người Trần ở cả 5 hành tinh cách viết ký tự 8 quẻ Dịch này, và gọi là 8 Quẻ, hay 8 Quái.
2- Mệnh Niên
Mệnh Niên cũng do Trời đặt ra từ khi mới sinh loài người Trần. Mệnh Niên có tên ghép một Thiên Can, gọi tắt là Can và một Địa Chi, gọi tắt là Chi.
Có 10 Can là: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý, dùng để chỉ cái người Trời trong ta. Can là Trời (Thiên) nên còn gọi là Thiên Can, gọi tắt là Can.
Và 12 Chi là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, để chỉ cái Thân xác ta, sống ở cõi Trần là là Đất (Địa) nên còn gọi là Địa Chi, gọi tắt là Chi.
Vì Can Chi do Trời đặt nên cũng có tên Trời như trong Bảng 2.
Bảng 2- Tên gọi Can Chi
Hàng Can |
Hàng Chi |
||
Tên tiếng Việt |
Tên Trời đặt |
Tên tiếng Việt |
Tên Trời đặt |
Giáp |
Zap |
Tý |
Ty |
Ất |
At |
Sửu |
Sou |
Bính |
Binz |
Dần |
Zan |
Đinh |
Dinz |
Mão |
Moa |
Mậu |
Moy |
Thìn |
Txin |
Kỷ |
Ky |
Tị |
Ti |
Canh |
Kanz |
Ngọ |
Ngo |
Tân |
Tan |
Mùi |
Mui |
Nhâm |
Nxam |
Thân |
Txan |
Quý |
Quy |
Dậu |
Zau |
|
|
Tuất |
Tuot |
|
|
Hợi |
Xoi |
Mệnh Niên dùng cho Thân xác mỗi người Trần trên hành tinh nên gọi là Mệnh người. Vì Can có 10, Chi 12 nên để chẵn cho cả hai (bội số chung) thì phải quay đủ 60 vòng, gọi là 60 Hoa Giáp, và được xếp thành 10 nhóm theo hàng Can, đứng đầu từ Can Giáp, nên gọi là 6 Tuần Giáp, đó là: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn và Giáp Dần. và được xếp mỗi Tuần Giáp là 10 Mệnh niên như trong Bảng 3.
Mệnh Quái tính theo năm Dương lịch, là tính tuổi Dương của người Trần, bắt đầu từ ngày ra đời. Mệnh niên tính theo năm Âm lịch, là tính tuổi người Trời trong ta, bắt đầu từ ngày về nhập vào bào thai trong bụng mẹ (trước ngày sinh khoảng 9 tháng 10 ngày). Vì vậy tính tuổi Âm phải cộng thêm 1 năm.
Bảng 3- Bảng nạp âm 60 hoa Giáp
Số TT |
Năm Can Chi |
Mệnh niên |
Số TT |
Năm Can Chi |
Mệnh niên |
1 |
Giáp Tý |
Vàng trong Biển (Kim) |
31 |
Giáp Ngọ |
Vàng trong cát (Kim) |
2 |
Ất Sửu |
32 |
Ất Mùi |
||
3 |
Bính Dần |
Lửa trong lò (Hỏa) |
33 |
Bính Thân |
Lửa chân núi (Hỏa) |
4 |
Đinh Mão |
34 |
Đinh Dậu |
||
5 |
Mậu Thìn |
Gỗ rừng cây (Mộc) |
35 |
Mậu Tuất |
Cây đồng bằng(Mộc) |
6 |
Kỷ Tị |
36 |
Kỷ Hợi |
||
7 |
Canh Ngọ |
Đất ven đường (Thổ) |
37 |
Canh Tý |
Đất trên vách (Thổ) |
8 |
Tân Mùi |
38 |
Tân Sửu |
||
9 |
Nhâm Thân |
Sắt mũi kiếm (Kim) |
39 |
Nhâm Dần |
Bạch kim (Kim) |
10 |
Quý Dậu |
40 |
Quý Mão |
||
11 |
Giáp Tuất |
Lửa ngọn núi (Hỏa) |
41 |
Giáp Thìn |
Lửa ngọn đèn (Hỏa) |
12 |
Ất Hợi |
42 |
Ất Tị |
||
13 |
Bính Tý |
Nước dưới khe (Thủy) |
43 |
Bính Ngọ |
Nước thiên hà (Thủy) |
14 |
Đinh Sửu |
44 |
Đinh Mùi |
||
15 |
Mậu Dần |
Đất tường thành (Thổ) |
45 |
Mậu Thân |
Đất vườn lớn (Thổ) |
16 |
Kỷ Mão |
46 |
Kỷ Dậu |
||
17 |
Canh Thìn |
Kim giá nến (Kim)- Bạch kim |
47 |
Canh Tuất |
Kim trang sức (Kim) |
18 |
Tân Tị |
48 |
Tân Hợi |
||
19 |
Nhâm Ngọ |
Gỗ Dương liễu (Mộc) |
49 |
Nhâm Tý |
Gỗ cây dâu (Mộc) |
20 |
Quý Mùi |
50 |
Quý Sửu |
||
21 |
Giáp Thân |
Nước trong suối (Thủy) |
51 |
Giáp Dần |
Nước khe lớn (Thủy) |
22 |
Ất Dậu |
52 |
Ất Mão |
||
23 |
Bính Tuất |
Đất mái nhà (Thổ) |
53 |
Bính Thìn |
Đất trong cát (Thổ) |
24 |
Đinh Hợi |
53 |
Đinh Tị |
||
25 |
Mậu Tý |
Lửa trong chớp (Hỏa) |
55 |
Mậu Ngọ |
Lửa trên trời (Hỏa) |
26 |
Kỷ Sửu |
56 |
Kỷ Mùi |
||
27 |
Canh Dần |
Gỗ Tùng Bách (Mộc) |
57 |
Canh Thân |
Gỗ Thạch lựu (Mộc) |
28 |
Tân Mão |
58 |
Tân Dậu |
||
29 |
Nhâm Thìn |
Nước giữa sông (Thủy) |
59 |
Nhâm Tuất |
Nước biển lớn (Thủy) |
30 |
Quý Tị |
60 |
Quý Hợi |
Trong 2 Mệnh trên thì Mệnh Quái giữ trọng số 1, Mệnh Niên giữ trọng số 2. Hai mệnh này cần có Hành (Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ) tương sinh cho nhau mới tốt. Nếu tương khắc thì xấu. Sinh hay khắc là do duyên Nghiệp của ta quyết định. Một người mà 2 mệnh có Hành sinh phù cho nhau hoặc đồng Hành thì cuộc đời dễ thành đạt. Nếu tương khắc thì cuộc đời hay gặp trắc trở. Nếu Mệnh Quái khắc Mệnh Niên thì đó là khắc mạnh, nên cuộc sống hay gặp nhiều khó khăn khó vượt qua. Còn khi Mệnh Niên khắc Mệnh Quái thì là khắc không mạnh, cuộc đời hay gặp trắc trở. Khi gặp khắc mệnh thì có thể hóa giải bằng Phù KIM MỘC THỦY HỎA THỔ để biến khắc thành sinh. Quan hệ sinh khắc ngũ Hành thể hiện ở Hình 1.
Hình 1
Thí dụ: Một người có Mệnh Quái Càn (Kim) và Mệnh Niên Kỷ Tị (Mộc- gỗ rừng cây). Có Kim khắc Mộc. Người này có thể mang theo một Phù Thủy trong người hoặc đặt trên mặt bàn làm việc, khi đó sẽ được Càn Kim Mệnh Quái sinh Phù Thủy sinh Mộc Mệnh Niên. Vậy Mệnh Quái nay sinh chứ không khắc Mệnh Niên nữa. Hình thức hóa giải này không nói kỹ ở đây. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giải pháp hỗ trợ, thành đạt vẫn là ở sự nỗ lực của mỗi con người.
Trên Trái đất, Mệnh Quái và Mệnh niên được dùng phổ biến ở các nước Đông Nam Á. Nhưng ở nhiều nước trên Trái đất người ta không dùng đến hai mệnh này, vậy là quên đi cái mà Trời đã định cho mình. Bạn đọc thấy phớt lờ Trời như thế liệu có được không?
Chú thích:
- Người ở các nước phương Tây không quan tâm tới Mệnh của mình là quên mệnh Trời cho.
- Người ở các nước Đông Nam Á quan tâm đến vấn đề này là thông minh. Nhưng các thầy xem mệnh mà không chú ý đến Mệnh Quái (chỉ xem Mệnh Niên) thì cũng là sai sót lớn, vì Mệnh Quái là Mệnh Trời, đứng trọng số 1.
3- Vấn đề chuyển giới
Trời sinh ra mình là nam, nay thay giới thành nữ hoặc ngược lại nữ thành nam thì không phạm tội, nhưng là làm trái mệnh Trời cho. Như vậy người này sẽ không được Trời phù hộ. Có đi cầu Trời Phật gì thì cũng không được trợ giúp. Cuộc đời từ nay thân cô thế cô giữa Trời Đất. Mệnh Trời theo năm sinh nam nữ không còn ý nghĩa với người này.
GSĐích